Vợ hai có được hưởng thừa kế tài sản không là vấn đề thường phát sinh trong những gia đình có quan hệ hôn nhân phức tạp, đặc biệt khi người chồng đã từng kết hôn, có con riêng hoặc tài sản được hình thành qua nhiều giai đoạn hôn nhân.
Nhiều người cho rằng vợ hai đương nhiên không được hưởng tài sản của chồng khi chồng qua đời. Tuy nhiên, pháp luật về thừa kế không phân biệt “vợ cả” hay “vợ hai” mà căn cứ vào quan hệ hôn nhân hợp pháp, nội dung di chúc và quy định về hàng thừa kế.
Vậy vợ hai có được hưởng thừa kế tài sản không? Trong bài viết dưới đây, Công Ty Luật TNHH RB Law sẽ phân tích cụ thể các trường hợp vợ hai có quyền hưởng di sản của chồng và những vấn đề cần lưu ý.
Vợ hai có được hưởng thừa kế tài sản không?
Có, nếu vợ hai là người vợ hợp pháp tại thời điểm người chồng qua đời.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế có thể là cá nhân còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế theo điều kiện luật định.
Đối với thừa kế theo pháp luật, vợ hoặc chồng của người chết thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Do đó, nếu người chồng đã chấm dứt hợp pháp cuộc hôn nhân trước và sau đó đăng ký kết hôn hợp pháp với người vợ mới thì người vợ mới là vợ hợp pháp và có quyền hưởng thừa kế của chồng theo quy định.
Pháp luật không quy định người vợ kết hôn lần thứ hai thì bị mất quyền thừa kế.

Vợ hai được hưởng thừa kế khi nào?
Vợ hai có thể được hưởng thừa kế của chồng trong một số trường hợp sau:
Trường hợp 1: Vợ hai là người thừa kế theo pháp luật
Nếu người chồng qua đời không để lại di chúc, di sản được chia theo pháp luật.
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất bao gồm:
- Vợ, chồng;
- Cha đẻ, mẹ đẻ;
- Cha nuôi, mẹ nuôi;
- Con đẻ, con nuôi của người chết.
Như vậy, nếu người vợ mới có quan hệ hôn nhân hợp pháp với người chồng tại thời điểm người chồng qua đời thì người vợ này thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Nếu có nhiều người cùng hàng thừa kế thì về nguyên tắc những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, trừ trường hợp có căn cứ pháp luật khác.
Trường hợp 2: Vợ hai được chỉ định trong di chúc
Người chồng có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người khác theo quy định pháp luật.
Nếu di chúc hợp pháp và chỉ định người vợ mới là người được hưởng di sản thì người vợ mới có thể được hưởng phần tài sản theo nội dung di chúc.
Tuy nhiên, quyền định đoạt của người lập di chúc vẫn có giới hạn trong một số trường hợp liên quan đến người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Trường hợp 3: Vợ hai được hưởng phần di sản dù không được ghi trong di chúc
Trong một số trường hợp, người vợ có thể thuộc nhóm người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Việc có được hưởng hay không cần xem xét điều kiện cụ thể theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015.
Do đó, không nên chỉ căn cứ vào việc người chồng có lập di chúc hay không để kết luận người vợ mới chắc chắn có hoặc không có quyền hưởng di sản.
Vợ hai có được hưởng tài sản nếu chồng có con riêng không?
Câu trả lời là: Có.
Việc người chồng có con riêng không làm mất quyền thừa kế của người vợ hợp pháp.
Ví dụ:
Ông A kết hôn với bà B và có hai người con. Sau khi cuộc hôn nhân với bà B được chấm dứt hợp pháp, ông A kết hôn với bà C.
Sau đó, ông A qua đời mà không để lại di chúc.
Nếu bà C vẫn là vợ hợp pháp tại thời điểm ông A qua đời thì bà C thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng với các con của ông A và cha mẹ của ông A nếu những người này còn sống và thuộc diện thừa kế.
Những người cùng hàng thừa kế sẽ được xem xét chia di sản theo quy định pháp luật.
Vợ hai có được hưởng thừa kế nếu chồng chưa ly hôn vợ cũ?
Đây là trường hợp cần đặc biệt lưu ý.
Nếu người chồng chưa chấm dứt hợp pháp cuộc hôn nhân với người vợ trước mà đã chung sống hoặc tổ chức quan hệ với người phụ nữ khác thì không thể mặc nhiên xác định người phụ nữ sau là “vợ hai” hợp pháp.
Nếu chưa đăng ký kết hôn hợp pháp với người chồng, người phụ nữ này về nguyên tắc không có tư cách là vợ hợp pháp để hưởng thừa kế với tư cách người vợ theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015.
Tuy nhiên, người phụ nữ này vẫn có thể có quyền đối với tài sản trong những trường hợp khác nếu chứng minh được quyền sở hữu, phần đóng góp vào tài sản hoặc thuộc trường hợp được hưởng thừa kế theo một căn cứ pháp luật khác.
Vì vậy, cần phân biệt rõ:
Vợ hai hợp pháp và người chung sống như vợ chồng nhưng không có quan hệ hôn nhân hợp pháp là hai trường hợp pháp lý khác nhau.
Vợ hai có được hưởng tài sản nếu chồng chưa ly hôn nhưng đã đăng ký kết hôn lần hai?
Nếu một người đang có vợ hoặc chồng hợp pháp mà tiếp tục đăng ký kết hôn với người khác thì việc xác định quan hệ hôn nhân và quyền thừa kế cần xem xét rất kỹ.
Về nguyên tắc, pháp luật Việt Nam không công nhận việc một người đồng thời có nhiều quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Do đó, nếu việc kết hôn sau vi phạm điều kiện kết hôn hoặc thuộc trường hợp kết hôn trái pháp luật thì người phụ nữ đó không đương nhiên được xác định là người vợ hợp pháp để hưởng thừa kế với tư cách vợ.
Trong trường hợp này, cần xem xét tình trạng pháp lý của từng cuộc hôn nhân và thời điểm phát sinh quyền thừa kế.
Vợ hai có được hưởng căn nhà là tài sản riêng của chồng không?
Câu trả lời là: Có thể.
Nếu căn nhà là tài sản riêng hợp pháp của người chồng thì khi người chồng qua đời, căn nhà có thể trở thành di sản.
Nếu người vợ mới là vợ hợp pháp tại thời điểm mở thừa kế thì người vợ mới có thể được hưởng phần di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Ví dụ:
Người chồng có một căn nhà được thừa kế riêng từ cha mẹ trước khi kết hôn với người vợ mới.
Sau khi người chồng qua đời, căn nhà có thể được xác định là di sản của người chồng.
Nếu không có di chúc thì người vợ hợp pháp tại thời điểm mở thừa kế có thể thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng những người thừa kế khác.
Điều này khác với trường hợp căn nhà là tài sản chung của vợ chồng.
Vợ hai có được hưởng tài sản chung của vợ chồng trước không?
Không đương nhiên được hưởng toàn bộ tài sản chung của cuộc hôn nhân trước.
Đây là vấn đề cần phân biệt giữa tài sản của người chồng và tài sản của cuộc hôn nhân trước.
Ví dụ:
Người chồng và vợ cũ có một căn nhà là tài sản chung.
Hai người ly hôn và Tòa án đã phân chia căn nhà. Người chồng được sở hữu một phần tài sản.
Sau đó người chồng kết hôn với người vợ mới.
Nếu người chồng qua đời, phần tài sản thuộc sở hữu của người chồng mới trở thành di sản.
Người vợ mới có thể được hưởng phần di sản đó theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Tuy nhiên, phần tài sản đã thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ cũ hoặc người khác không phải là di sản của người chồng để người vợ mới yêu cầu chia.
Vợ hai có được hưởng thừa kế nếu chồng và vợ cũ chưa chia tài sản?
Đây là trường hợp phức tạp.
Ví dụ, người chồng và vợ cũ đã ly hôn nhưng tài sản chung chưa được phân chia. Sau đó người chồng kết hôn với người vợ mới và qua đời.
Trong trường hợp này, trước khi chia thừa kế cần xác định phần tài sản thực sự thuộc quyền sở hữu của người chồng.
Phần tài sản thuộc về người vợ cũ không phải là di sản của người chồng.
Chỉ phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chồng mới được đưa vào khối di sản để chia thừa kế.
Sau khi xác định được di sản, người vợ mới có thể được hưởng phần di sản theo quy định pháp luật nếu đáp ứng điều kiện.
Vợ hai có được hưởng thừa kế khi chồng chết mà không để lại di chúc?
Câu trả lời là: Có thể được hưởng.
Nếu người chồng chết không để lại di chúc thì di sản được chia theo pháp luật.
Vợ hợp pháp tại thời điểm người chồng qua đời thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất có thể bao gồm:
- Vợ hoặc chồng;
- Cha đẻ, mẹ đẻ;
- Cha nuôi, mẹ nuôi;
- Con đẻ, con nuôi.
Do đó, nếu người chồng có vợ mới hợp pháp, người vợ mới có thể được hưởng một phần di sản cùng những người thừa kế thuộc cùng hàng.
Vợ hai có được hưởng thừa kế nếu chồng để lại di chúc cho vợ cũ?
Đây là trường hợp cần xem xét nội dung di chúc và tính hợp pháp của di chúc.
Nếu người chồng lập di chúc hợp pháp và để lại tài sản cho người vợ cũ thì người vợ cũ có thể được hưởng phần di sản theo nội dung di chúc.
Tuy nhiên, người vợ mới vẫn cần được xem xét quyền thừa kế theo quy định pháp luật, đặc biệt nếu thuộc trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Ngoài ra, nếu di chúc chỉ định người hưởng di sản nhưng tài sản được định đoạt vượt quá phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chồng thì phần vượt quá cũng không thể làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác.
Vợ hai có được hưởng thừa kế nếu chồng có con riêng?
Câu trả lời là: Có.
Con riêng của người chồng vẫn có quyền thừa kế đối với di sản của cha theo quy định pháp luật nếu đáp ứng điều kiện.
Đồng thời, người vợ hợp pháp cũng có quyền hưởng thừa kế.
Ví dụ, người chồng qua đời không có di chúc và để lại:
- Vợ hiện tại;
- Hai con riêng;
- Một người con chung;
- Mẹ đẻ còn sống.
Nếu tất cả đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất và không có căn cứ loại trừ quyền hưởng di sản thì những người này có thể cùng được hưởng di sản theo quy định pháp luật.
Vợ hai có quyền hưởng tài sản từ chồng nhưng không có quyền hưởng tài sản của vợ cũ
Cần phân biệt rất rõ tài sản của người chồng với tài sản thuộc quyền sở hữu của người vợ cũ.
Người vợ mới có thể có quyền hưởng di sản thuộc về người chồng.
Tuy nhiên, người vợ mới không đương nhiên có quyền yêu cầu chia tài sản riêng của vợ cũ hoặc phần tài sản đã thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ cũ.
Ví dụ:
Sau khi ly hôn, người vợ cũ được Tòa án xác định sở hữu một căn nhà.
Sau đó người chồng kết hôn với người vợ mới.
Nếu người chồng qua đời thì người vợ mới không có quyền yêu cầu chia căn nhà đã thuộc quyền sở hữu của người vợ cũ.
Cần xác định di sản của người chồng trước khi chia thừa kế
Câu trả lời là: Đây là bước rất quan trọng.
Không phải toàn bộ tài sản mà người chồng đang quản lý hoặc sử dụng đều là di sản.
Trước khi chia thừa kế cần xác định:
Bước 1: Xác định tài sản riêng của người chồng.
Bước 2: Xác định phần quyền sở hữu của người chồng trong tài sản chung.
Bước 3: Xác định các nghĩa vụ tài sản của người chồng.
Bước 4: Xác định phần di sản còn lại.
Bước 5: Xác định người thừa kế.
Bước 6: Chia di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Việc xác định đúng khối di sản giúp tránh tình trạng chia nhầm tài sản của người còn sống.
Những trường hợp vợ hai có thể không được hưởng thừa kế
Không phải cứ được gọi là “vợ hai” thì chắc chắn được hưởng di sản.
Một số trường hợp có thể không được hưởng với tư cách người vợ, chẳng hạn:
- Không có quan hệ hôn nhân hợp pháp với người đã chết;
- Quan hệ hôn nhân đã chấm dứt trước thời điểm mở thừa kế;
- Thuộc trường hợp bị truất quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật;
- Từ chối nhận di sản theo đúng quy định;
- Không thuộc diện thừa kế theo căn cứ đang được áp dụng.
Tuy nhiên, mỗi trường hợp cần được xem xét dựa trên hồ sơ và tình trạng pháp lý cụ thể.
Vợ hai có được hưởng thừa kế nếu đang ly thân với chồng?
Câu trả lời là: Có thể.
Ly thân không đồng nghĩa với ly hôn.
Nếu hai người vẫn đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp tại thời điểm người chồng qua đời thì người vợ vẫn có thể thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Do đó, việc hai vợ chồng không sống chung hoặc đã ly thân trong một thời gian không tự động làm mất quyền thừa kế.
Muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân phải thực hiện theo quy định pháp luật về ly hôn và có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án trong trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Vợ hai có được hưởng thừa kế nếu đã ly hôn với chồng?
Câu trả lời là: Thông thường không với tư cách là người vợ.
Nếu quan hệ hôn nhân đã chấm dứt hợp pháp trước thời điểm người chồng qua đời thì người vợ cũ không còn tư cách là vợ để hưởng thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất.
Tuy nhiên, người đã ly hôn vẫn có thể được hưởng tài sản trong những trường hợp khác, chẳng hạn:
- Được người chết chỉ định trong di chúc;
- Có quyền sở hữu đối với tài sản chung chưa được giải quyết;
- Có quyền tài sản độc lập khác.
Do đó, cần phân biệt quyền thừa kế với quyền sở hữu tài sản đã hình thành trước khi ly hôn.
Vợ hai có được hưởng thừa kế tài sản không?
Như vậy, câu hỏi Vợ hai có được hưởng thừa kế tài sản không? cần được trả lời dựa trên tình trạng hôn nhân hợp pháp và nguồn gốc di sản.
Nếu người vợ mới đã đăng ký kết hôn hợp pháp với người chồng và quan hệ hôn nhân vẫn còn tại thời điểm người chồng qua đời thì người vợ mới có thể được hưởng thừa kế với tư cách là vợ.
Trường hợp chồng không để lại di chúc, người vợ hợp pháp thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng với cha mẹ và con của người chết theo quy định pháp luật.
Nếu có di chúc, quyền hưởng di sản sẽ được xác định trước hết theo nội dung di chúc hợp pháp, đồng thời vẫn phải xem xét các quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Đặc biệt, cần xác định chính xác di sản của người chồng trước khi chia thừa kế. Người vợ mới không đương nhiên có quyền đối với tài sản riêng của vợ cũ hoặc phần tài sản đã thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác.
Công Ty Luật TNHH RB Law – Tư vấn thừa kế và tranh chấp di sản
Công Ty Luật TNHH RB Law cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ pháp lý liên quan đến thừa kế, hôn nhân và tài sản, bao gồm:
- Tư vấn quyền thừa kế của vợ, chồng;
- Tư vấn chia thừa kế theo di chúc;
- Tư vấn chia thừa kế theo pháp luật;
- Tư vấn xác định di sản của người đã chết;
- Tư vấn tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng;
- Tư vấn quyền thừa kế của con riêng, con chung;
- Tư vấn tranh chấp di sản thừa kế;
- Tư vấn tranh chấp nhà đất, tài sản thừa kế;
- Hỗ trợ giải quyết tranh chấp thừa kế tại Tòa án.
Lưu ý: Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo. Quyền hưởng thừa kế trong từng vụ việc cần được xác định dựa trên tình trạng hôn nhân, di chúc, nguồn gốc tài sản, thời điểm mở thừa kế và các tài liệu, chứng cứ cụ thể.

